Bài mới

Nhận xét mới

Vụ Phương Uyên và Nguyên Kha

Dư luận sau phiên tòa xét xử hai thanh niên Phương Uyên và Nguyên Kha bỗng trở nên sôi động kỳ lạ. Tôi cố gắng tìm đọc thông tin của cả hai lề để có điểm nhìn tham chiếu. Nhưng thông tin lề phải không thấy có gì đặc biệt. Thông tin lề trái tương đối nhiều. Không biết thông tin lề trái tường thuật có chính xác không, nhưng với những gì tôi đọc thấy thì hai thanh niên này quả là có khí phách ở phiên tòa. Phương Uyên nói rằng: "Tôi là sinh viên yêu nước, nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì những người trẻ khác sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền của đất nước. Nếu một sinh viên, tuổi trẻ như tôi mà bị kết án tù vì yêu nước thì thật sự tôi không cam tâm... Việc tôi làm thì tôi chịu, xin nhà cầm quyền đừng làm khó dễ mẹ hay gia đình của chúng tôi. Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước, và cuối cùng là chúng tôi làm xuất phát từ cái tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn.", còn Nguyên Kha tuyên bố: "Tôi trước sau vẫn là một người yêu nước, yêu dân tộc tôi. Tôi không hề chống dân tộc tôi, tôi chỉ chống đảng cộng sản. Mà chống đảng thì không phải là tội". Những câu nói này khiến tôi nhớ tới những tiền bối cộng sản ở những phiên tòa của thực dân Pháp như Lý Tự Trọng nói: "Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác. Tôi tin rằng nếu các ông suy nghĩ kỹ thì các ông cũng thấy cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng những người cần lao như tôi". Tôi nghĩ đó là những con người như Milan Kundera viết: "Chính xác là khi thế giới nội tâm của họ biến đổi mà Bézoukhov hay Bolkonsky tự xác định mình là những cá thể; mà họ khiến ta kinh ngạc; mà họ trở nên khác biệt; mà tự do của họ bùng cháy lên, và cùng với nó, là bản sắc của cái tôi của họ; đấy là những khoảnh khắc thơ: họ sống những khoảnh khắc đó với một cường độ lớn cho đến nỗi toàn bộ thế giới chạy ùa đến cùng họ với cả một đám rước say sưa những chi tiết huyền diệu". Tôi tin là đã có một thế hệ mới, những con người đang đi tới "ngực dám đón những phong ba dữ dội / chân đạp bùn không sợ những loài sên" và tương lai thuộc về họ.

Tuyên bố của Nguyên Kha là cả một vấn đề pháp lý: chống Đảng có phải là một tội không? Vấn đề pháp lý này buộc mỗi chúng ta phải suy nghĩ về tính chính đáng của nó. Tôi nhớ luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, Hà Huy Sơn từng viết thư yêu cầu Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích điều 88 của bộ luật Hình sự: thế nào là tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nhưng cho đến nay tôi không nghe thấy có tin tức gì. Tôi phỏng đoán Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa giải thích về điều 88. Đây chính là một vấn nạn pháp luật rất lớn. Cơ quan chịu trách nhiệm cao nhất về giải thích pháp luật đã không làm tròn trách nhiệm của mình. Giá như Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích, ví dụ như, chống Đảng là chống nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì có phải mọi thứ trở nên rõ ràng, và sẽ không còn ai đặt câu hỏi như Nguyên Kha và sẽ hạn chế rất nhiều vi phạm pháp luật. Như vậy, ngay cả khi cho rằng Nguyên Kha phạm tội theo điều 88 thì chính Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã góp phần tạo ra hành vi phạm tội của công dân vì đã không giải thích luật pháp cho minh bạch khi có yêu cầu giải thích. Sự vô trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã khiến cho công dân phạm pháp.

Thư yêu cầu trả tự do cho Uyên Phương và Nguyên Kha, theo tôi, không có mấy tác dụng vì đã có tiền lệ thư yêu cầu trả tự do cho ông Cù Huy Hà Vũ. Áp lực như vậy chưa đủ nặng cân. Song có lẽ cấp thiết và hữu ích hơn cả là tạo áp lực buộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải giải thích điều 88, thế nào là tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.  


Vũ Như Cẩn

Truyền thông đưa tin về nội dung sửa đổi Hiến pháp được ông Phan Trung Lý trình ở Quốc hội. Về cơ bản là Vũ Như Cẩn, và hoàn toàn có thể tiên đoán được trước. Nhóm 72 sẽ làm gì? Gửi bản kiến nghị tới từng đại biểu Quốc hội được tích sự gì? Trước đây tôi đã đặt câu hỏi: Liệu những nhà "tuyền ký" có thể tập hợp những người ký kiến nghị đến Quốc hội yêu cầu gặp đại biểu Quốc hội để truyền đạt lại những ý chí của họ cho Quốc hội không? Giờ đây tôi thêm một câu hỏi nữa: Liệu những nhà "tuyền ký" có dám cắm trại trước Quốc hội cho đến khi kiến nghị của mình được bàn luận ở Quốc hội?

Phải làm gì? Có lẽ là một nan đề hóc búa nhất.

Nhân dân lên giá ?!

Trong kiến nghị sửa đổi Hiến pháp của Chính phủ có đề xuất: "Thủ tướng và các thành viên Chính phủ có trách nhiệm báo cáo công tác của mình trước nhân dân". Từ đề xuất như vậy có người đã vội cho rằng đó là quan điểm mang tính cấp tiến, có khuynh hướng theo hướng tam quyền phân lập, một điểm son của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trái với những quan điểm như vậy, tôi cho rằng đề xuất như vậy vừa mị dân lố bịch, vừa ngớ ngẩn, thể hiện không có một tí hàm lượng chất xám nào trong đó.

Đề xuất như vậy mang tính mị dân bởi vì nó muốn phỉnh phờ để nhân dân cứ tưởng rằng mình làm chủ. Xem cung cách Thủ tướng hay Tổng Bí thư tiếp xúc với cử tri vừa mới đây thôi thì nhân dân là ai rất rõ ràng, và đại bộ phận dân chúng dường như không phải là nhân dân. Có bao nhiêu nhân dân từng được nghe Thủ tướng báo cáo công việc của mình? Đề xuất như vậy mang tính lố bịch vì Chính phủ báo cáo công tác của mình trước nhân dân như thế nào? Lên truyền hình đọc báo cáo là xong trách nhiệm? Nhân dân làm thế nào để bình chuẩn công tác của Chính phủ? Đề xuất như vậy mang tính ngớ ngẩn, bởi vì không một Chính phủ nào có thể báo cáo công tác của mình trước nhân dân. Họ chỉ có thể báo cáo công tác của mình trước đại diện của nhân dân, tức là trước Quốc hội. Hơn nữa, cái ngớ ngẩn còn nằm ở chỗ Chính phủ Việt Nam không phải do nhân dân bầu trực tiếp, mà là do nhân dân bầu gián tiếp thông qua các đại diện của mình tức là thông qua Quốc hội. Nhân dân không bầu trực tiếp Chính phủ thì hà cớ gì Chính phủ phải báo cáo trước nhân dân? Nhân dân bầu gián tiếp Chính phủ nên Chính phủ chỉ phải báo cáo gián tiếp trước nhân dân, tức là báo cáo trước Quốc hội.

Dường như gần đây nhân dân Việt Nam được lên giá. Kha khá nhiều người phát biểu lấy nhân dân làm chủ thể. Có những người về hưu giờ đây kể những câu chuyện rằng thì là hồi tại chức mình chưa bao giờ làm dân đổ máu. Không lẽ làm dân không đổ máu là chính tích của một sự nghiệp chính trị, trong khi phục vụ nhân dân mới thực sự là một chính tích, và không đổ máu là lẽ đương nhiên? Chằng bù mấy năm trước báo Quân đội nhân dân còn ra rả ai mới là nhân dân, đừng có tưởng bở nghiễm nhiên là nhân dân. Ôi nhân dân, đừng có thấy mấy chữ "nhân dân" mà hoa mắt lầm tưởng những thủ đoạn lấy nhân dân làm chiêu bài chính trị là vì nhân dân.
Điểm dễ thấy nhất để tách chuyện vừa đá bóng vừa thổi còi là thành viên Chính phủ không được là đại biểu Quốc hội thì chẳng thấy Chính phủ đề xuất, mà cứ lôi nhân dân ra như thế thì mệt cho nhân dân lắm.   

Hứa hão và bánh vẽ

Theo sự quan sát của tôi, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là nhà lãnh đạo cao cấp duy nhất ở Việt Nam hay hứa hão và đưa bánh vẽ cho dân chúng. Trong lễ nhậm chức Thủ tướng, ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: "Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay". Cho đến nay sự nghiệp chống tham nhũng của ông Dũng vẫn là một số không tròn trịa, nhưng cái ghế Thủ tướng vẫn không rời đít của ông. Ông Dũng từng đưa ra đề xuất xây dựng luật biểu tình ra nghị trình làm việc của Quốc hội, nhưng cho đến nay luật biểu tình vẫn bặt âm vô tín. Gần đây một số dư luận trên mạng có vẻ đề cao Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong chuyện sửa đổi Hiến pháp như ủng hộ quyền phúc quyết của nhân dân. Những dư luận đấy là chưa đọc kỹ quan điểm của ông Dũng. Đúng là ông Nguyễn Tấn Dũng ủng hộ quyền phúc quyết của nhân dân, nhưng không phải cho lần sửa đổi Hiến pháp lần này, mà là cho lần sửa đổi Hiến pháp lần sau (bao giờ sửa đổi Hiến pháp lần sau thì chưa ai biết). Vietnamnet đưa tin rất rõ: "thống nhất việc đưa quy định trưng cầu dân ý về HP vào HP lần này (không áp dụng ngay mà phải để QH ban hành luật Trưng cầu dân ý làm cơ sở cho việc sửa đổi HP sau)", nhưng không hiểu sao một số dư luận trên mạng lờ tịt, và đưa tin khiến người đọc có thể nhầm lẫn rằng ông Nguyễn Tấn Dũng ủng hộ quyền phúc quyết Hiến pháp ngay trong thực thi lần sửa đổi Hiến pháp 1992 này. Nói tóm lại đối với ông Nguyễn Tấn Dũng tôi nghĩ công luận nên nhớ nguyên tắc này: đừng tin những gì Tấn Dũng nói, hãy xem những gì Tấn Dũng làm. Những thứ ông Nguyễn Tấn Dũng từng làm là: sinh ba con, con cái được vào những vị trí ngon, chịu trách nhiệm chính để các tập đoàn kinh tế nhà nước xâu xé nền kinh tế, chịu trách nhiệm chính về thất bại của Vinashin, Vinaline, chịu trách nhiệm chính về quản lý và điều hành để nền kinh tế của đất nước lâm vào tình trạng suy thoái và khủng hoảng. Dưới thời ông Nguyễn Tấn Dũng nhiều người bị xét xử theo điều 88 của bộ luật hình sự, tường lửa được thiết lập chặt chẽ, và chính ông Dũng từng ra chỉ thị cấm người dân đọc và bàn luận một số trang web. Ông Nguyễn Tấn Dũng không cho thấy có khả năng lắng nghe và làm việc được với trí thức, nhà khoa học thực sự .

Oan Thị Kính hay Thị Màu?

Dư luận xã hội trên mạng thường kết tội Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về quyết định cho làm thí điểm khai thác bauxite ở Tân Rai và Nhân Cơ. Nhưng vừa mới đây trong buổi tiếp xúc với cử tri, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: "Phải chờ hiệu quả thí điểm làm xong đến đâu đã. Bây giờ đang tính toán trên sổ sách và dự báo, nên nói ngay là lỗ bao nhiêu, hay có lỗ hay không là chưa đủ cơ sở". Xem như thế thì có thể thấy quyết định thí điểm khai thác bauxite hoàn toàn không phải là chủ trương của riêng ông Nguyễn Tấn Dũng, mà là chủ trương chung của Đảng Cộng sản. Tuy nhiên không rõ trong quyết sách này ông Dũng có phản đối không, hay ông cũng bỏ một phiếu cho nó? 

Bệnh ấu trĩ dân chủ

Trong một bức thư gửi Ban chấp hành TW hồi năm 2005 được cho là của ông Võ Văn Kiệt có nhấn mạnh đến nguyên tắc: "đại hội là cơ quan quyền lực cao nhất, giữa hai đại hội cơ quan lãnh đạo của đảng là ban chấp hành trung ương". Nguyên tắc này xóa sổ vai trò của bộ Chính trị là cấp trên của Ban chấp hành TW trong cơ chế dân chủ tập trung. Có thể hiểu được mong muốn của ông Kiệt muốn dân chủ hóa trong nội bộ Đảng và hạn chế sự lộng quyền của Tổng Bí thư và bộ Chính trị mà có thể trong quá khứ lịch sử của Đảng những yếu tố như vậy đã từng xảy ra. Song đây cũng là một sai lầm chết người. Cơ chế dân chủ không bao giờ hoạt động được nếu thiếu hai yếu tố: kiểm soát và tản quyền. Dân chủ không có kiểm soát và tản quyền là chuyên chế của số đông dẫn tới độc tài cá nhân. Dân chủ trong cơ cấu tổ chức dân chủ tập trung của Đảng vốn không có kiểm soát và tản quyền về thực chất là biến chế độ quả đầu của dân chủ tập trung thành chế độ độc tài cá nhân. Bệnh ấu trĩ về dân chủ này không chỉ  tạo cơ hội cho những kẻ độc tài tiếm quyền mà còn tạo ra khủng hoảng chính trị trong đất nước. Có thể thấy ngay hồi Đại hội XI cơ chế "chuyên chế của số đông" đã được vận dụng như thế nào. Ông Nguyễn Thanh Nghị, con trai Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, không được đại hội Đảng bộ TPHCM cử đi tham dự đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Ông Nguyễn Thanh Nghị cũng không có chính tích gì. Nhưng tại đại hội Đảng toàn quốc XI ông Nguyễn Thanh Nghị được đề cử và trúng vào ủy viên dự khuyết BCHTW. Không ai có thể đàn hặc được chuyện này vì ông Nghị được bầu một cách hoàn toàn dân chủ và ở đúng đại hội là cơ quan quyền lực cao nhất. Nhưng nhìn ở mặt khác thấy ngay một người không có chính tích, không được Đảng bộ địa phương cử đi dự đại hội Đảng toàn quốc nhưng lại trúng ủy viên dự khuyết BCHTW thì chỉ có thể là do con ông Nguyễn Tấn Dũng. Không thể ảo tưởng tốt đẹp về một cơ chế dân chủ không có kiểm soát và tản quyền. Cơ chế đó còn nguy hiểm hơn cơ chế quả đầu khi ít nhất trong cơ chế quả đầu quyền lực còn được phân tán cho một số ít người. Hiện tượng Tổng Bí thư hay bộ Chính trị có thể khuynh loát Ban chấp hành TW hoàn toàn không phải do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng như những người mắc bệnh ấu trĩ về dân chủ tưởng, mà chính là do cơ chế dân chủ trong Đảng thiếu kiểm soát và tản quyền, dẫn đến Tổng Bí thư hay bộ Chính trị vận dụng sự chuyên chế của số đông làm cơ sở cho khuynh loát của mình. Khi Tổng Bí thư hay bộ Chính trị không đủ mạnh thì các cá nhân khác, nhóm đặc quyền đặc lợi, sẽ lợi dụng chính sự chuyên chế của số đông trong trò chơi dân chủ không có kiểm soát và tản quyền để khuynh loát, và như vậy tạo ra khủng hoảng chính trị hay độc tài cá nhân ở dạng này hay dạng khác. Một câu hỏi đặt ra là tại sao sự chuyên chế của số đông không dẫn đến quả đầu mà lại dẫn đến độc tài cá nhân? Câu trả lời nằm ở chính sự liên kết quyền lợi của đa số trên thiểu số đó là được dẫn dắt bởi một cá nhân. Nếu không có cá nhân dẫn dắt sẽ không có sự chuyên chế của số đông.

Tuy vậy cũng phải nói thêm rằng trong bức thư của mình ông Võ Văn Kiệt cũng đề xuất Tổng Bí thư do đại hội Đảng bầu trực tiếp. Đề nghị này của ông Kiệt thực chất là tạo ra tản quyền và kiểm soát lẫn nhau giữa Tổng Bí thư và Ban chấp hành TW, và như vậy có thể khống chế sự chuyên chế của đa số. Nhưng thực tế, đề nghị này của ông Kiệt không được thực thi, nhưng quan điểm "đại hội là cơ quan quyền lực cao nhất, giữa hai đại hội cơ quan lãnh đạo của đảng là ban chấp hành trung ương" lại được chấp nhận dẫn đến sự chuyên chế của đa số.


Bất ổn chính trị từ cơ chế một đảng

Trong đợt góp ý sửa đổi Hiến pháp vừa qua có những ý kiến lo ngại rằng đa đảng sẽ dẫn đến bất ổn chính trị ở Việt Nam. Nhưng quan sát hai hội nghị TW Đảng vừa qua, tôi nhận thấy có nguy cơ bất ổn chính trị từ cơ chế một đảng. Nghiêm trọng hơn, trong cơ chế một đảng đó, không có giải pháp giải quyết bất ổn chính trị.

Tình thế của hai hội nghị TW vừa qua cho thấy mặc dù Tổng Bí thư và bộ Chính trị nhất trí đề xuất một số vấn đề, nhưng TW Đảng bỏ phiếu bác bỏ. Vấn đề này không phải chỉ ở chỗ Tổng Bí thư và bộ Chính trị không còn khả năng thuyết phục và lãnh đạo TW Đảng, mà còn nằm ở chỗ mâu thuẫn hay bất đồng đấy không có phương cách để giải quyết trong chính cơ chế dân chủ tập trung của Đảng, hay nói cách khác, không có giải pháp giải quyết bất ổn giữa TW Đảng một bên, và Tổng Bí thư cùng bộ Chính trị ở bên kia. Trong cơ chế một đảng, điều đó dẫn tới bất ổn hay khủng hoảng chính trị và bế tắc vì không có phương thức giải quyết mâu thuẫn một cách bình ổn. Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung quốc đã cho thấy có những lúc có những bất ổn chính trị trong các đảng này và dẫn tới sự bất ổn và khủng hoảng trong toàn xã hội khi các đảng này độc quyền lãnh đạo.

Bất ổn chính trị trong cơ chế một đảng còn nguy hiểm hơn bất ổn chính trị trong cơ chế đa đảng dân chủ, bởi vì trong cơ chế đa đảng dân chủ còn có giải pháp hòa bình giải quyết bất ổn đó, còn trong cơ chế một đảng, không có bất kỳ giải pháp nào, ngoài khả năng dẫn tới độc tài cá nhân để bình ổn.